Phương pháp bàn tay nặn bột.

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Dương Hoàng Anh
Ngày gửi: 16h:47' 01-08-2014
Dung lượng: 570.5 KB
Số lượt tải: 40
Nguồn:
Người gửi: Dương Hoàng Anh
Ngày gửi: 16h:47' 01-08-2014
Dung lượng: 570.5 KB
Số lượt tải: 40
Số lượt thích:
1 người
(Ngô Thị Bé Hạnh)
PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT
A. TỔNG QUAN VỀ BÀN TAY NẶN BỘT
I. Bối cảnh ra đời:
1. Trước năm 1995, khắc phục yếu kém trong việc giảng dạy khoa học khoa học tự nhiên cho HS, tại Chicago, Mỹ, nhà Vật lý Leon Lederma (GT Nobel 1998) đã xây dựng chương trình thí điểm dạy học, nhằm giúp HS có một trình độ hiểu biết (tìm chân lý) dựa trên việc tự mình phải bắt tay hành động tìm tòi nghiên cứu. Chương trình thí điểm có tên gọi “Hands on”- “ Nhúng tay vào”
2. Năm 1995, Tiếp thu những tư tưởng của “Hands on” và khắc phục những hạn chế về phương pháp giáo dục ở cấp tiểu học, GS người Pháp George Charpak (GT Nobel năm 1992), cùng một số nhà Khoa học Pháp đã nghiên cứu xây dựng chương trình thí điểm dạy học khoa học có tên “La main a la pâte” có nghĩa là Đặt “tay” (La main) vào “bột” (la pâte), và được hiểu là hãy bắt tay vào hành động, bắt tay vào làm thí nghiệm, bắt tay vào tìm tòi nghiên cứu.
Tháng 9/1996, thử nghiệm ở 5 tỉnh, 350 lớp.
3. Bàn tay nặn bột đã được nhiều Quốc gia trên thế giới tiếp nhận: Brazil; Bỉ; Colombia; Trung Quốc; Thái Lan; Hy Lạp; Đức…
- Một số quốc gia khác khi dịch sang ngôn ngữ của mình cũng dịch theo từ nguyên bản của Pháp hoặc dịch thoáng ra theo nghĩa tiếng Pháp “La main à la pâte” (Từ hành động đến suy nghĩ) hoặc theo một nghĩa tiếng Anh “Learning by doing” (học bằng hành động).
4. Việt Nam tiếp nhận Bàn tay nặn bột:
+ Được sự giúp đỡ của Hội gặp gỡ Việt Nam tại Pháp
+ Bàn tay nặn bột đã được dạy thí điểm
+ Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển quan tâm chỉ đạo trực tiếp
+ Vụ GDTH và Vụ GDTrH phối hợp xây dựng Đề án
5. Đặc trưng cơ bản của phương pháp bàn tay nặn bột:
- Bản chất: Việc phát hiện, tiếp thu kiến thức của học sinh thông qua việc GV giúp HS tự đi lại chính con đường mà các nhà khoa học đã nghiên cứu tìm ra chân lý (kiến thức): Từ tình huống xuất phát, nêu vấn đề, quan niệm về vấn đề đó như thế nào, đặt câu hỏi khoa học (giả thuyết khoa học), đề xuất phương pháp nghiên cứu, thực hiện phương pháp nghiên cứu để kiểm chứng giả thuyết, đưa ra kết luận.
- Đặc trưng:
+ Dạy học phải tự nhiên như qúa trình tìm ra chân lý;
+ Với phương pháp bàn tay nặn bột, kể cả HS đọc sách trước; học thêm trước hoặc biết trước kiến thức thì chưa chắc HS hiểu tường tận và đề xuất thí nghiệm chứng minh cho phát biểu đúng. HS sẽ lúng túng khi hỏi lại: vì sao em biết điều đó? Làm thế nào để em có thể chứng minh kết luận của em đúng?. Nếu dạy trước thì tiết học không hấp dẫn;
+ Phương pháp bàn tay nặn bột chú trọng đến quan niệm ban đầu của học sinh về kiến thức mới sẽ học.
+ Sử dụng vở thực hành (vở nghiên cứu), như là một phương tiên rèn ngôn ngữ, tập ghi chép nghiên cứu khoa học;
+ Sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột không được nhận xét quan điểm của ai đúng, ai sai. Thông qua thí nghiệm, chính HS sẽ tự đánh giá đúng hay sai.
+ Phương pháp bàn tay nặn bột áp dụng chủ yếu cho dạy khoa học tự nhiên, công nghệ, khoa học thực nghiệm, các chủ đề gắn với đời sống thực tiễn của HS;
+ Áp dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học ở tiểu học:
. Một bài trong chương trình
. Một nội dung kiến thức trong bài học
. Một nội dung kiến thức trong CT (một nhóm bài/chủ đề)
- Ưu điểm:
+ Có khả năng kích thích tính tò mò, ham muốn khám phá; yêu và say mê khoa học của HS
+ Ngoài việc hình thành kiến thức còn hình thành năng lực nghiên cứu khoa học
+ Rèn kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói, viết
B. TIẾN TRÌNH BÀN TAY NẶN BỘT
1). Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
2). Bước 2: Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh
3). Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm
4). Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu
5). Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức
Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
- Tình huống xuất phát:
Do GV đưa ra như là một cách dẫn nhập vào bài học.
Phải ngắn
A. TỔNG QUAN VỀ BÀN TAY NẶN BỘT
I. Bối cảnh ra đời:
1. Trước năm 1995, khắc phục yếu kém trong việc giảng dạy khoa học khoa học tự nhiên cho HS, tại Chicago, Mỹ, nhà Vật lý Leon Lederma (GT Nobel 1998) đã xây dựng chương trình thí điểm dạy học, nhằm giúp HS có một trình độ hiểu biết (tìm chân lý) dựa trên việc tự mình phải bắt tay hành động tìm tòi nghiên cứu. Chương trình thí điểm có tên gọi “Hands on”- “ Nhúng tay vào”
2. Năm 1995, Tiếp thu những tư tưởng của “Hands on” và khắc phục những hạn chế về phương pháp giáo dục ở cấp tiểu học, GS người Pháp George Charpak (GT Nobel năm 1992), cùng một số nhà Khoa học Pháp đã nghiên cứu xây dựng chương trình thí điểm dạy học khoa học có tên “La main a la pâte” có nghĩa là Đặt “tay” (La main) vào “bột” (la pâte), và được hiểu là hãy bắt tay vào hành động, bắt tay vào làm thí nghiệm, bắt tay vào tìm tòi nghiên cứu.
Tháng 9/1996, thử nghiệm ở 5 tỉnh, 350 lớp.
3. Bàn tay nặn bột đã được nhiều Quốc gia trên thế giới tiếp nhận: Brazil; Bỉ; Colombia; Trung Quốc; Thái Lan; Hy Lạp; Đức…
- Một số quốc gia khác khi dịch sang ngôn ngữ của mình cũng dịch theo từ nguyên bản của Pháp hoặc dịch thoáng ra theo nghĩa tiếng Pháp “La main à la pâte” (Từ hành động đến suy nghĩ) hoặc theo một nghĩa tiếng Anh “Learning by doing” (học bằng hành động).
4. Việt Nam tiếp nhận Bàn tay nặn bột:
+ Được sự giúp đỡ của Hội gặp gỡ Việt Nam tại Pháp
+ Bàn tay nặn bột đã được dạy thí điểm
+ Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển quan tâm chỉ đạo trực tiếp
+ Vụ GDTH và Vụ GDTrH phối hợp xây dựng Đề án
5. Đặc trưng cơ bản của phương pháp bàn tay nặn bột:
- Bản chất: Việc phát hiện, tiếp thu kiến thức của học sinh thông qua việc GV giúp HS tự đi lại chính con đường mà các nhà khoa học đã nghiên cứu tìm ra chân lý (kiến thức): Từ tình huống xuất phát, nêu vấn đề, quan niệm về vấn đề đó như thế nào, đặt câu hỏi khoa học (giả thuyết khoa học), đề xuất phương pháp nghiên cứu, thực hiện phương pháp nghiên cứu để kiểm chứng giả thuyết, đưa ra kết luận.
- Đặc trưng:
+ Dạy học phải tự nhiên như qúa trình tìm ra chân lý;
+ Với phương pháp bàn tay nặn bột, kể cả HS đọc sách trước; học thêm trước hoặc biết trước kiến thức thì chưa chắc HS hiểu tường tận và đề xuất thí nghiệm chứng minh cho phát biểu đúng. HS sẽ lúng túng khi hỏi lại: vì sao em biết điều đó? Làm thế nào để em có thể chứng minh kết luận của em đúng?. Nếu dạy trước thì tiết học không hấp dẫn;
+ Phương pháp bàn tay nặn bột chú trọng đến quan niệm ban đầu của học sinh về kiến thức mới sẽ học.
+ Sử dụng vở thực hành (vở nghiên cứu), như là một phương tiên rèn ngôn ngữ, tập ghi chép nghiên cứu khoa học;
+ Sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột không được nhận xét quan điểm của ai đúng, ai sai. Thông qua thí nghiệm, chính HS sẽ tự đánh giá đúng hay sai.
+ Phương pháp bàn tay nặn bột áp dụng chủ yếu cho dạy khoa học tự nhiên, công nghệ, khoa học thực nghiệm, các chủ đề gắn với đời sống thực tiễn của HS;
+ Áp dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học ở tiểu học:
. Một bài trong chương trình
. Một nội dung kiến thức trong bài học
. Một nội dung kiến thức trong CT (một nhóm bài/chủ đề)
- Ưu điểm:
+ Có khả năng kích thích tính tò mò, ham muốn khám phá; yêu và say mê khoa học của HS
+ Ngoài việc hình thành kiến thức còn hình thành năng lực nghiên cứu khoa học
+ Rèn kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói, viết
B. TIẾN TRÌNH BÀN TAY NẶN BỘT
1). Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
2). Bước 2: Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh
3). Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm
4). Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu
5). Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức
Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
- Tình huống xuất phát:
Do GV đưa ra như là một cách dẫn nhập vào bài học.
Phải ngắn
 










Các ý kiến mới nhất